Cập nhật: 26/10/2006 | 12:00:00 AM (GMT + 7)
Hệ thống sông ngòi chính tỉnh Bắc Giang

1 - Sông Lục Nam (sông Minh Đức)

Đây là một trong những con sông đẹp vào loại bậc nhất ở nước ta, bắt nguồn từ núi Kham, cao 700 m thuộc miền Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn chảy qua 15 km đến địa hạt tỉnh Bắc Giang. Con sông này đi qua các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng dài 175 km rồi nhập vào sông Thương cách Phả Lại 10 km, sau đó mới hợp với sông Cầu thành sông Thái Bình. Lòng sông Lục Nam rất rộng, tàu thuỷ có thể vào tới chân núi Bảo Đài nên thuận lợi cho giao thông thuỷ và phát triển du lịch. Từ lâu hai bên sông đã được xây dựng một hệ thống đê vững chắc. Tổng diện tích lưu vực của sông Lục Nam khá lớn F = 3.070 km2 , độ cao bình quân lưu vực là 207 m, độ dốc bình quân lưu vực là 16,5%. Mật độ lưới sông bình quân là 0,94 km/km2. Ở thượng nguồn lòng sông Lục Nam hẹp chảy giữa núi. Từ Chũ trở xuống dòng sông mới mở rộng. Từ núi Bảo Đài trở xuống, dòng sông êm ả, hai bên bờ nhân dân trồng tre, cây cối um tùm đẹp mắt.
Các chi lưu tả ngạn quan trọng nhất : sông Bò, sông Lê Ngạc, sông Chỉ Tác, sông Đan Hộ. Các chi lưu hữu ngạn quan trọng là sông Căn, sông Gốm, sông Cỏ Mạt.
Tổng lượng dòng chảy bình quân năm (tại Chũ) Yo = 1,273.106m3. Trong đó mùa lũ chiếm 80,9%; mùa cạn chiếm 19,1%, độ đục bình quân năm tại Chũ là 330 g/m3, đường kính hạt thường nhỏ và ít thay đổi. Tại Chũ Dbq = 0,02-0,3 mm, môdul xâm thực lớn hơn so với sông Cầu và sông Thương bình quân 200 tấn/km2/năm. Nước sông Lục Nam có độ khoáng hoá bình quân thấp so với hai sông kia khoảng 100 mg/l. Nước sông thuộc lớp hydrocacbonat nhóm canxi ion HCO3 chiếm trên 90% tổng lưu lượng các cation các ion Mg++, Na+, SO4--, K+, SO4, CL đều có hàm lượng thấp ít thay đổi. Nước sông Lục Nam có độ cứng : 0,5 - 1 me/l, pH bình quân là 6,5; hàm lượng silic trong nước sông lớn hơn 10 mg/l.
Tổng lượng chất hoà tan bình quân năm của sông là 0,119.106 tấn tương đương với môdul là 57 tấn/km2/năm. Nhìn chung chất lượng nước tự nhiên thuộc loại tốt, phù hợp với yêu cầu sử dụng nước cho dân sinh và các ngành kinh tế. Các  sông nằm gần như trọn vẹn trong lãnh thổ Bắc Giang có nhiều giá trị sử dụng kinh tế như thuỷ điện nhỏ, du lịch, giao thông thuỷ và là nguồn nước phục vụ dân sinh, nông nghiệp, các ngành kinh tế khác. Hiện trên sông Lục Nam chưa có các công trình thuỷ lợi lớn. Chủ yếu là các công trình thuỷ lợi nhỏ và các trạm bơm tạm lưu động theo mùa.
Từ bến Chũ đến ngã ba Nhãn (54 km) tầu thuyền có thể lưu thông tương đối tốt. Còn các đoạn khác của sông Lục Nam thì ít có khả năng phục vụ giao thông thuỷ.

2 - Sông Thương (sông Nhật Đức)

Sông Thương có tên là sông Nhật Đức, theo truyền thuyết gọi là sông Thương vì đây là con sông xưa kia các gia đình, bạn bè thường lấy là giới hạn đưa tiễn người thân đi sứ sang Trung Quốc hoặc trấn ải miền biên thuỳ. Những cuộc tiễn biệt ấy còn để lại những lời ca dao ai oán.
Sông Thương là phụ lưu của sông Thái Bình, bắt nguồn từ núi Na Pa Phước cao 600 m thuộc địa bàn tỉnh Lạng Sơn có chiều dài 157 km với hướng chảy chính là hướng bắc nam. Diện tích lưu vực tính đến Cầu Sơn là 2.339 km2.
Ở thượng lưu sông chảy qua vùng núi đá vách rất hẹp, lòng sông có độ dốc lớn 30o. Về mùa mưa nước chảy từ dãy Cai Kinh và sườn phía bắc núi Bảo Đài xuống tạo thành lũ lớn nên từ lâu nhân dân đã phải làm đê suốt dọc đôi bờ. Sông đổ vào tỉnh Bắc Giang ở Thanh Muôi. Từ Bố Hạ trở xuống Bắc Giang, sông chảy theo hướng bắc nam, lòng sông mở rộng và sâu, độ dốc lòng sông bình quân còn 0,1% nước trong xanh, suốt năm thuyền bè tàu thuỷ có thể lưu thông được. Qua thành phố Bắc Giang thì sông Thương hợp lưu vào với sông Lục Nam, chảy theo  hướng tây bắc - đông nam là chính nhưng cũng nhiều đoạn quanh co, đôi bờ có hai dải đê kiên cố.

Phía hữu ngạn có suối Giao phát nguyên từ đèo Cút, suối Tiên Hồ phát nguyên ở núi Tiên Hồ. Suối Mỏ Phiếu phát sinh từ đèo Lợi, sông Gióng chảy từ mỏ Gờ thuộc núi Cai Kinh qua thị trấn Mẹt rồi đổ vào sông Thương. Suối Trung, suối Rùa, suối Ngao đặc biệt là sông Bắc Cầu hay còn gọi là ngòi Đa Mai. Ngòi này phát nguyên ở Thượng Độ chảy qua miền bắc Hiệp Hoà và Việt Yên rồi chảy vào sông Thương ở Đa Mai. Nước ở ngòi Đa Mai có phù sa nên lúc nào cũng đỏ, khi nhập vào sông Thương không hoà ngay vào mà bị sức chảy của dòng nước sông Thương chuyển hướng xuống phía nam thành hai dòng nước chảy bên trong, bên đục nên đã có câu ca “Sông Thương nước chảy đôi dòng”.
Bên tả ngạn có suối Nỏ Nầm và sông Hoá cùng phát nguyên ở đèo Văn Vi cách Lạng Sơn 24 km. Suối Nghè, suối Ken, suối Thơ, suối Vị, suối Minh, suối Nhạn.
Tổng lượng dòng chảy bình quân năm của sông Thương tại Cầu Sơn đạt Yo = 1,100.106 m3. Trong đó lượng nước của 4 tháng mùa lũ chiếm 77%; 8 tháng mùa cạn chiếm 23%, độ đục bình quân năm tại Cầu Sơn là 122 g/m3, bằng 0,36 lần của sông Lục Nam song kích thước cỡ hạt thì được hết giá trị của sông.
Tổng lượng chất hoà tan bình quân năm của sông là 0,119.106 tấn tương đương với môdul là 57 tấn/km2/năm. Nhìn chung, mạng lưới sông trong lưu vực phát triển kém. Mật độ lưới sông trung bình là 0,82 km/km2, vùng đá vôi có mật độ lưới sông bình quân là 0,5 km/km2, vùng Hoá có mật độ 0,97 km/km2. Tổng lượng chất hoà tan năm tại mặt cắt Cầu Sơn bằng 0,2.106 tấn, tương đương với môdul bằng 85,5 tấn/km/năm. Chất lượng nước thiên nhiên cũng vào loại tốt, phù hợp với yêu cầu sử dụng nước, từ lâu đã được nhân dân khai thác phục vụ các ngành thuỷ sản, giao thông, thuỷ điện, nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt.
Công trình thuỷ lợi Cầu Sơn đã được hoàn thành từ năm 1914 với hình thức tưới tự chảy, ngày nay đã phục vụ tưới cho 14.280 ha diện tích đất canh tác vùng bán sơn địa phía Bắc của tỉnh. Công trình gồm có kè Cầu Sơn, kết hợp với đập Cấm Sơn với tổng chiều dài 114 km, 138 kênh cấp 2 với tổng chiều dài là 304 km. Hàng trăm kênh cấp 3 và kênh nội đồng với tổng chiều dài là 499,3 km. Kênh Cầu Sơn gồm cả 3 loại hỗn hợp chìm, nổi, nửa nổi nửa chìm.
Ngoài ra, hồ Cấm Sơn có Nhà máy Thuỷ điện Cấm Sơn được xây dựng từ năm 1968, có công suất thiết kế là 3.900 kw/h. Hồ còn là nơi có tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản và phục vụ du lịch. Năm 1972 Nhà máy Phân đạm Hà Bắc đã xây dựng trạm cấp nước từ sông Thương với công suất 26.000 m3 nước/ngày, cung cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt cho thành phố. Ngoài ra, còn một số trạm lấy nước nhỏ khác nữa cũng được xây dựng trên sông Thương với tổng công suất 2.289 m3/ngày... Vì thế, từ lâu con sông này có giá trị rất nhiều mặt, vang bóng một thời và gắn bó với chiều dài lịch sử đất nước.Do yêu cầu phát triển kinh tế còn phải tiếp tục đầu tư thêm để khai thác tiềm năng của con sông này về mặt thuỷ điện, trữ nước tưới tiêu cũng như du lịch.

3 - Sông Cầu (sông Nguyệt Đức, Phú Lương)

Sông bắt nguồn từ vùng núi Tam Đảo (1.326 m), thượng lưu nằm giữa hai cánh cung sông Gâm và Ngân Sơn chảy vào Bắc Giang ở địa giới huyện Hiệp Hoà rồi chảy quanh co đến Yên Phong, đoạn này có bến Vọng Nguyệt và Như Nguyệt nổi tiếng. Sông còn một nguồn nữa là sông Cà Lồ chảy từ sông Bạch Hạc (Vĩnh Phú) qua Mê Linh, Kim Anh rồi nhập vào sông Hương La ở bãi Ba Sà.
Như vậy, sông Cầu vào Bắc Giang ở huyện Hiệp Hoà, sau đó chảy quanh co ở địa phận tiếp giáp giữa Bắc Giang và Bắc Ninh, qua địa phận các huyện Yên Phong, Việt Yên, Yên Dũng và Quế Võ (Bắc Ninh) để rồi hợp lưu với sông Thương và sông Lục Nam ở phía trên Phả Lại 10 km. So với hai sông kia, con sông Cầu có chiều dài lớn nhất (288 km), nhưng đoạn đi qua tỉnh Bắc Giang lại thật ngắn.
Lòng sông Cầu ở thượng lưu hẹp và dốc nhiều thác ghềnh, độ dốc đáy sông 10%, nhưng đến trung lưu thì lòng sông mở rộng độ dốc đáy sông còn 0,1%. Độ cao bình quân của lưu vực là 190m. Đoạn từ Thác Huống đến Phả Lại độ dốc đáy sông chỉ còn 0,1%. Sông Cầu khi về đến Bắc Giang thì lòng sông sâu và mở rộng, nước chảy êm đềm, nối hai bên xóm làng của vùng quan họ Kinh Bắc xưa.

 Các con sông nhánh nổi tiếng của sông Cầu như sông Tiên Lương với câu ca :

Sông Tương một dải nông sờ
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.

Sông Tiêu phát nguyên từ hồ Lãng Bạc chảy từ phía tây sang đông bắc qua Tương Giang, Vân Trường, các làng quan họ nổi tiếng như Lim, Bưởi, Ổi, Se, Bờ rồi chảy vào sông Cầu. Trong đó có khe Ngũ Huyện dài 15,8 km, diện tích lưu vực là 145 km2 và ngòi Tào Khê dài 31 km với diện tích 150 km2 đều thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh.
Tổng lượng dòng chảy bình quân năm của sông Cầu tại thác Bưởi là : Yo = 0,145,4.106 (tại Tân Cương là 0,482.106). Trong đó mùa lũ kéo dài 4 tháng lượng nước chiếm 70,8%, mùa cạn kéo dài 8 tháng lượng nước chiếm 29,2%, độ đục bình quân năm tại thác Bưởi là 250 g/m3, đường kính bình quân hạt phù sa cũng nhỏ nhưng thay đổi hơn 2 sông kia d = 0,015-0,040 mm. Nước sông cùng thuộc lớp bicácbonat canxi, độ cứng bình quân thay đổi từ 1-2me/l. Tổng lượng chất hoà tan bình quân năm đạt 0,216.106 tấn, tương đương 118 tấn/km2/năm. Với chất lượng nước khá tốt, đáp ứng yêu cầu sử dụng cho các ngành kinh tế và sinh hoạt, từ lâu nguồn nước sông Cầu đã được khai thác để phục vụ khu gang thép Thái Nguyên. Hệ thống công trình đập Thác Huống được hoàn thành năm 1932, phục vụ tưới cho 25.000 ha của các huyện Phú Bình (Thái Nguyên), Hiệp Hoà, Tân Yên, Việt Yên. Do chiều dài của sông Cầu chủ yếu nằm ở các tỉnh bạn nên việc tiếp tục đầu tư khai thác con sông này còn có nhiều hạn chế.

(Nguồn: Địa chí Bắc Giang, năm 2006)

Các tin khác
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
(BGĐT)- Được huyện Yên Dũng (Bắc Giang) chọn làm điểm, đến nay xã Tiến Dũng đã cơ bản hoàn thành 17/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Điểm nhấn của Tiến Dũng là công tác dồn điền, đổi thửa, người dân hiến hơn 20ha đất xây dựng hạ tầng đường giao thông, kênh mương nội đồng phục vụ sản xuất. Tiến Dũng phấn đấu về đích xây dựng nông thôn mới trong năm nay.
  • Trang chủ
  • Đặt làm trang chủ
  • BGĐT Mail
  • RSS
  • Về đầu trang
 
Bản quyền thuộc Báo Bắc Giang . Địa chỉ: Số 49 Nguyễn Văn Cừ - TP Bắc Giang - Tỉnh Bắc Giang.
Tổng Biên tập TRỊNH VĂN ÁNH - Tòa soạn ĐT:+84.0240.3856367 - +84.0240.3854639
Fax:+84.0240.3856624 , Email: toasoan@baobacgiang.com.vn
Giấy phép số 74/GP - TTĐT cấp ngày 09 tháng 4 năm 2011.
Ghi rõ nguồn "Báo Bắc Giang Điện Tử" khi phát hành lại thông tin từ website này.
 
ictgroup.vn