Quốc phòng
Cập nhật: 3/5/2013 | 2:26:46 PM (GMT + 7)
Người chỉ huy phải chủ động, sâu sát thực tế
(BGĐT)-Là một trong những người lính xe tăng đầu tiên của quân đội ta, Đại tá Đào Xuân Vĩnh, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh (CCB) huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang) luôn xúc động khi nhớ về những năm tháng quân ngũ, nhất là thời khắc cam go đối mặt với kẻ thù. Trở về đời thường, phát huy phẩm chất, truyền thống "Bội đội cụ Hồ", ông tích cực tham gia công tác tại Hội CCB địa phương.
Cựu chiến binh Đào Xuân Vĩnh nói chuyện truyền thống với dân quân xã Quang Minh.

Từ du kích làng thành chiến sĩ điện biên

Được biết, ông đã từng tham gia Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Vậy ông đã trở thành chiến sĩ Điện Biên như thế nào?

Tôi sinh năm 1933 trong một gia đình có 5 anh chị em ở thôn Hữu Định, xã Quang Minh (Hiệp Hoà). 17 tuổi, tôi tham gia du kích làng rồi vào lực lượng thanh niên xung phong.

Tháng 2-1954, khi đang làm nhiệm vụ mở đường từ Thái Nguyên đi Cao Bằng, tôi được gọi bổ sung vào Đại đội 407, Trung đoàn 165 (Sư đoàn 312) tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Do thời gian gấp rút, tôi và đồng đội vừa hành quân vừa huấn luyện. Sau 20 ngày đêm vượt núi, băng rừng, đơn vị có mặt tại điểm tập kết sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được giao nhiệm vụ gì?

Tôi được biên chế trong Đại đội trinh sát. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị đảm nhận nhiệm vụ trinh sát đồi Him Lam để các đơn vị chủ lực nổ súng đánh trận mở màn vào chiều ngày 13-3-1954.

Do còn thiếu kinh nghiệm chiến đấu, địa hình, địa vật lạ, phức tạp, yêu cầu nhiệm vụ tuyệt đối bí mật, chúng tôi phải bò vào sát mục tiêu quan sát hệ thống hầm hào, lô cốt, hoả lực, quy luật hoạt động… của địch, sau đó vẽ lại tỷ mỷ trên sơ đồ.

Qua những bản vẽ khá sát với thực địa đã góp phần để các mũi tấn công nhanh chóng làm chủ đồi Him Lam, tạo bàn đạp đánh chiếm các mục tiêu khác, kết thúc chiến dịch vào chiều ngày 7-5-1954.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông khi tham gia chiến dịch?

Kỷ niệm thì nhiều song đáng nhớ nhất là khi kết thúc chiến dịch, tôi được giao nhiệm vụ dẫn giải tù binh từ Điện Biên Phủ về Tuyên Quang. Thường mỗi người được giao một tù binh. Tuy nhiên, tổ của tôi có 3 người nhưng phải dẫn giải 30 tù binh. Do tù binh Pháp không quen đi bộ đường dài, nhất là địa hình rừng núi, ngôn ngữ bất đồng nên quá trình dẫn giải rất vất vả. Dù vậy, sau hơn một tháng, chúng tôi cũng về đến Tuyên Quang an toàn, được chỉ huy khen ngợi.

Từ một người lính trinh sát, duyên cớ nào đưa ông trở thành thế hệ lính xe tăng đầu tiên của quân đội ta?

Hoàn thành nhiệm vụ dẫn giải tù binh, đơn vị tôi được lệnh hành quân về xã Tân Dĩnh (Lạng Giang) xây dựng quân đội thời bình. Tháng 5-1955, tôi cùng 39 chiến sĩ khác của Sư đoàn 312 được cử đi học văn hóa. Do có thành tích trong học tập, khả năng rèn luyện phấn đấu tốt, tháng 3-1957 tôi và một số chiến sĩ được chọn đi học tại Trường Xe tăng số 4 Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Đại tá Đào Xuân Vĩnh.

Tháng 10-1959, Bộ Quốc phòng thành lập Trung đoàn xe tăng 202 - đơn vị xe tăng đầu tiên của quân đội ta, tôi được giao nhiệm vụ pháo thủ Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 rồi tham gia luyện tập hiệp đồng binh chủng với Sư đoàn bộ binh La Thịnh Giáo tại Quế Lâm (Trung Quốc). Năm 1965, khi Trung đoàn xe tăng 203 được thành lập, tôi được điều về làm Trung đội trưởng kiêm Chính trị viên phó Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1), sau đó là Đại đội trưởng Đại đội 2.

Trung đoàn xe tăng 203 ra đời để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông có thể điểm qua một số trận đánh lớn của đơn vị?

Tháng 2-1971, trên cương vị Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn xe tăng 198 (Trung đoàn xe tăng 203) tôi trực tiếp chỉ huy đơn vị phối hợp cùng Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) đánh điểm cao 543 ở Quảng Trị, bắt toàn bộ Bộ chỉ huy Lữ đoàn dù 3 Ngụy, trong đó có Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng. Đây là đơn vị địch có nhiệm vụ chốt chặn đường 16B, ngăn chặn tuyến vận chuyển người, vũ khí, trang bị của quân ta vào miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh.

Sau khi làm chủ cao điểm 543, Bộ Quốc phòng chỉ đạo đơn vị phải bằng mọi giá thu hồi phương tiện chiến tranh của địch để nghiên cứu. Do địch phản công dữ dội, sau nhiều lần cử lực lượng đi thu hồi xe tăng, xe thiết giáp địch không thành công, trong khi thương vong nhiều, cuối cùng tôi xung phong đưa 2 xe tăng vào cao điểm kéo về 1 xe thiết giáp M41, 2 chiếc M113 để phục vụ việc nghiên cứu, tác chiến sau này.

Trận đánh thứ hai tại Cửa Việt vào ngày 31-1-1973. Trên cương vị Trung đoàn phó Trung đoàn xe tăng 203, tôi trực tiếp chỉ huy một đại đội phà chở xe tăng đến bờ nam sông Bến Hải, đánh địch lấn chiếm Cửa Việt. Do địa hình chủ yếu là cát nên khi thủy triều rút, tôi điều xe tăng đến cùng với các đơn vị bạn tiêu diệt hoàn toàn Lữ đoàn xe tăng 47 của địch, thu nhiều chiến lợi phẩm.

Một kỷ niệm tôi không bao giờ quên đó là sau chiến thắng này, đơn vị vinh dự được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thị sát kết quả trận đánh địch lấn chiếm Cửa Việt.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đơn vị ông được giao nhiệm vụ gì?

Khi Bộ Quốc phòng thành lập Trung đoàn 215 dự bị chiến lược, chuẩn bị lực lượng cho Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tôi được cấp trên điều về làm Trung đoàn trưởng. Sau đó Trung đoàn phát triển thành Lữ đoàn, tôi làm Lữ đoàn phó. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Trung đoàn 215 điều 3 tiểu đoàn bổ sung cho các mũi tiến công của Quân đoàn 4, Quân khu 9, Lữ đoàn xe tăng 273 và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần làm nên đại thắng chung của quân và dân ta.

Tỏa sáng phẩm chất "Bộ đội cụ Hồ"

Được biết, sau Đại thắng mùa Xuân 1975, ông được cử đi học tại Học viện Xe tăng Mạc Tư Khoa (Liên Xô). Cuối năm 1976, ông được giao nhiệm vụ Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn xe tăng 215, rồi Lữ đoàn xe tăng 273 đến năm 1988 nghỉ hưu với quân hàm Đại tá. Vậy, qua những năm quân ngũ, ông rút ra bài học kinh nghiệm gì trên vai trò của người chỉ huy?

Điều quan trọng nhất là trong mọi tình huống, người chỉ huy phải chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh của cấp trên. Luôn chủ động, sâu sát thực tế, kịp thời động viên cấp dưới khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đối với đơn vị thiết giáp, bên cạnh huấn luyện thuần thục phương án tác chiến cần hết sức coi trọng công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật. Bởi lẽ, con người dù có quyết tâm đến mấy nhưng khi làm nhiệm vụ lại thiếu chủ động thì không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Vậy ông vận dụng những bài học kinh nghiệm đó trong công tác Hội CCB như thế nào?

Về nghỉ hưu hai năm, tôi được cử làm Chủ tịch lâm thời Hội CCB xã Quang Minh. Tại Đại hội lần thứ nhất Hội CCB huyện Hiệp Hoà (cuối năm 1990), tôi được bầu làm Phó Chủ tịch, từ năm 2002-2007 là Chủ tịch Hội. Bằng kinh nghiệm trong chiến đấu, tôi luôn xác định rõ vị trí, tính chất của tổ chức Hội CCB, xây dựng tổ chức hội vững mạnh; động viên hội viên phát huy truyền thống "Bộ đội cụ Hồ".

Nhờ đó, dù mới được thành lập song hoạt động của Hội đã được khẳng định, nhất là trong việc tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền biện pháp xử lý nhiều vụ việc phức tạp ở cơ sở. Nhiều năm, Hội CCB huyện được cấp trên biểu dương do có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua.

Nhiều năm làm Chủ tịch Hội CCB huyện và hiện tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức hội ở địa phương, ông có nhận xét gì về hoạt động của Hội CCB hiện nay?

Nhìn chung hoạt động của Hội CCB là tốt. Tuy nhiên, có thời điểm, có việc, tiềm năng to lớn của CCB chưa được đánh giá đúng. Một số mặt hoạt động của hội còn hình thức, hiệu quả thấp, nhất là trong "mặt trận" phòng, chống lãng phí, quan liêu; rồi vai trò phản biện xã hội của tổ chức hội còn yếu. Nguyên nhân do một số tổ chức hội chưa nhận thức rõ trách nhiệm của mình cũng như vai trò, tiềm năng to lớn của CCB.

Theo ông, làm thế nào để khơi dậy, phát huy được vai trò, tiềm năng to lớn của CCB trong giai đoạn hiện nay?

CCB có tiềm năng rất to lớn. Đây là những người đã qua thời gian huấn luyện, chiến đấu; có ý thức tổ chức kỷ luật. Trở về đời thường, CCB thể hiện rõ vai trò gương mẫu, trách nhiệm và là lực lượng nòng cốt trong nhiều hoạt động ở cơ sở. Do đó, cấp uỷ, chính quyền, trực tiếp là tổ chức hội các cấp cần hết sức coi trọng số anh em hoàn thành nghĩa vụ quân sự về địa phương. Qua hoạt động thực tế, kịp thời phát hiện những nhân tố tích cực, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn cán bộ ở cơ sở.

Để phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của CCB, nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt vẫn là chăm lo xây dựng tổ chức hội thật sự vững mạnh. Triển khai thực hiện các phong trào thi đua của hội phải coi trọng thực chất, tránh chạy theo thành tích, kịp thời có biện pháp nhân rộng những mô hình hoạt động hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc việc xét duyệt, kết nạp hội viên để hội viên CCB thấy được vinh dự, trách nhiệm của mình khi sinh hoạt trong tổ chức Hội.

Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Thế Phương - Sĩ Quyết
(thực hiện)

Các tin khác
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
(BGĐT) - Tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh nằm trong trấn Kinh Bắc, vùng đất phía Bắc của kinh thành Thăng Long xưa (Hà Nội ngày nay), trung tâm của khu vực châu thổ sông Hồng. Tại đây còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử có giá trị như: Hệ thống đình, đền, chùa, lăng tẩm… Quê hương Kinh Bắc còn nổi tiếng với dân ca quan họ, được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được tôn vinh Di sản tư liệu ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Bài đọc nhiều nhất
  • Trang chủ
  • Đặt làm trang chủ
  • BGĐT Mail
  • RSS
  • Về đầu trang
 
Bản quyền thuộc Báo Bắc Giang . Địa chỉ: Số 49 Nguyễn Văn Cừ - TP Bắc Giang - Tỉnh Bắc Giang.
Tổng Biên tập TRỊNH VĂN ÁNH - Tòa soạn ĐT:+84.0240.3856367 - +84.0240.3854639
Fax:+84.0240.3856624 , Email: toasoan@baobacgiang.com.vn
Giấy phép số 74/GP - TTĐT cấp ngày 09 tháng 4 năm 2011.
Ghi rõ nguồn "Báo Bắc Giang Điện Tử" khi phát hành lại thông tin từ website này.
 
ictgroup.vn