Phóng sự, ghi chép Thu nho cua so ket qua tim kiem Phong to cua so ket qua tim kiem Dong cua so ket qua tim kiem
Người xa quê
Cập nhật: Thứ tư, 3/2/2010 | 9:26:00 Sáng
 
Minh họa: HÀ MI
Tôi nán lại vài ngày ở Praha rồi nói với anh em trong sứ quán là mình muốn được tới mấy chỗ xa xa xem bà con ta sinh sống thế nào. Vậy là chỉ hôm sau Trần Bình hiện ra, anh là đại diện của cộng đồng người Việt tại Vyssibrốt, thuộc vùng Nam Tiệp. Bằng tiếng Hà Tĩnh không trộn vào đâu được cho dù đã xa quê hương từ rất lâu, Trần Bình vui vẻ nói: "Tôi lên đón anh về dưới kia vài tuần, dưới ấy nhiều rừng nhiều núi, phong cảnh đẹp, chỉ lo anh buồn vì quá vắng vẻ".

Quả nhiên Vyssibrốt là một thị trấn êm ả, nó như nàng Bạch Tuyết ngủ trong rừng. Nằm sát biên giới, từ đây chỉ cần đi thêm vài bước là tới cửa khẩu, có lối qua Lin, thành phố lớn thứ hai nước Áo, lại có lối sang Đức, cứ men theo tả ngạn sông Đa-nuýp mà ngược vào miền Đét-sau điệp trùng những cánh rừng, ẩn hiện những làng quê, đi chừng hai trăm cây số nữa là tới Muy-nic, một trung tâm kinh tế - văn hoá phồn vinh và sôi động trong cộng đồng chung châu Âu. Rất nhiều năm trước đây là vành đai ngăn cách hai phe, cảnh giác canh phòng gắt gao, tiếng là vẫn có các cửa khẩu nhưng việc ra vào rất khó. Ngày ngày lính canh hai bên ôm súng lăm lăm nhìn nhau, họ tự hỏi thầm làm sao lại phải thế, rồi lại tự trả lời mình cứ phải thế, không thế  không được! Gần đây đã có cách nhìn mới hơn, lại thấy không thế vẫn có thể được, hoàn toàn có thể không cần phải thế. Dân Tiệp tự nguyện lựa chọn cho mình con đường hội nhập, trở thành một thành viên chính thức của cộng đồng châu Âu. Các trạm gác, các doanh trại đồn trú được gỡ bỏ trong một đêm, nhiều chỗ nhanh chóng thành hoang vắng, xe cộ ra vào suốt ngày đêm, dẫu có muốn dừng lại xuất trình giấy tờ cũng không biết tìm ai mà trình.

Các cơ quan hành chính đóng ở mé đồi gần nhà thờ Con Gà Trống, còn khu chợ Việt thì nằm trong trung tâm  buôn bán. Vài ba dãy phố cũ kỹ nhà liền tường cái to cái nhỏ, cửa kính cửa chớp, ban công, mái lợp đá đen, ngói đỏ, hiên cổng nhô ra nhô vào, đấy là những ngôi nhà có từ đầu thế kỷ trước, có cái nhìn con số ghi năm xây dựng thì hiểu đã có vài trăm năm. Ngoài mấy quán bia, quán cafe lúc nào cũng nhộn nhịp, các cửa hiệu khác xem chừng đều uể oải, mở cửa muộn đóng cửa sớm, nhìn chung phố xá bên này đều thế, lững lờ thanh vắng. Nhiều ngôi nhà từ lúc tôi đến cho tới lúc tôi đi cửa giả lúc nào cũng cài then, chẳng rõ trong nhà có người hay không nữa. Có ba lối vào thị trấn, mặt đường trải nhựa phẳng lỳ, chỉ những lối đi trong trung tâm là được lát đá. Những con đường lát đá chạy lên các đồi cao, tất cả rợp dưới bóng cây mang lại cho thị trấn một vẻ xưa quý giá.

Người các làng lên phố thường dắt nhau đến thẳng chợ Việt, ở đó nhiều hàng lạ, tha hồ chọn, tha hồ mặc cả mà lại rẻ. Họ mặc cả với nhau bằng mồm,  bằng tay, gật đầu lắc đầu và cười. Chỉ mấy ông sở thuế mới tẩy chay hàng nhái quyết liệt đến thế chứ bà con các làng thì không hề. Mấy năm trước buôn bán còn dễ, nhất là ngoài đường biên, bà con bên Áo, bên Đức kéo nhau sang ôm về từng đống hàng nhái, khen tuy hàng rởm nhưng vẫn đẹp và trên cả tuyệt vời là nó rất vừa với túi tiền dân nghèo. Bây giờ thì khó khăn rồi, bây giờ bảo nhau lùi dần vào sâu, phải ngồi trong cầu trong quán và đăng ký mặt hàng tử tế để còn đóng thuế chứ không được phép trải vội mảnh vải   bạt trên cỏ rồi ném tung toé đống hàng lên đấy. Những ngày ấy mỗi khi có xe sở thuế thình lình ập đến là một phen khắp chợ nháo nhác như gà gặp quạ, các bà các chị hớt hải ôm những thùng hàng chạy tứ tung, cảnh tượng thật nheo nhóc. Khu chợ hôm nay thì khỏi nói, khang trang bề thế. Con đường ra biên giới chia nó thành hai mảnh, bên trái là khu chợ cũ, bên phải là khu chợ mới vừa tổ chức lễ khánh thành tháng trước. Hôm đó dân phố đến dự rất đông, ai cũng trầm trồ khi thấy hàng trăm tà áo dài Hà Nội bước ra vui vẻ chào khách, các bà nhà ta chẳng khác nào tiên giáng trần, chiếc áo dài ông bà để lại xem ra thật lợi hại. Ngài thị trưởng hôm ấy đóng bộ cùng mấy nhân vật quan trọng khác cầm kéo cắt  băng mở cổng chợ, và sau đó là một bài diễn văn nồng nhiệt chúc mừng sự phồn vinh của thị trấn. Ông khẳng định sự đóng góp có ích của bà con người Việt, đồng thời tuyên dương tấm gương sáng của ông giám đốc chợ Trần Bình, người đã có công đầu khai mở cái chợ này và giờ đây tiếp tục đưa nó lên một quy mô mới. Hàng phố vỗ tay thì thào, khoá tới nhất định phải bầu Trần Bình, người Tiệp gốc Việt, làm dân  biểu Hội đồng thị trấn Vyssibrốt.

Mấy dãy lều lợp ngói đặt trên một khoảnh đất được trải xi măng rộng rãi, bên cạnh có bãi đỗ xe, phía sau có khu vệ sinh công cộng, cống rãnh thoát nước đàng hoàng. Ở mỗi góc chợ có một ông già mũ phớt dạ phì phèo điếu thuốc, cánh tay đeo băng bảo vệ, mắt mũi kèm nhèm. Một cái chợ kiểu mẫu được cất theo thiết kế của kỹ sư Trần Bình và đã được hội đồng hàng huyện chuẩn y. Chẳng qua nó cũng chỉ là một nơi để buôn bán thêm ổn định, từ tinh mơ sáng đã bảo nhau chất hàng lên xe, sẩm tối giục nhau dọn hàng, tản mát mỗi người một ngả, có người về nghỉ ở những ngôi nhà làm tạm để cho thuê trong các góc rừng, có người phải về xa cả trăm cây số. Vất vả nhất là vào những mùa đông gió tuyết. Trong mỗi quầy quây vuông như cái hộp gạch hàng họ chất cao ngập đầu, quần áo thì móc trên dây, còn đồ tạp hoá la liệt dưới sạp, riêng hàng nhái được nhét kín dưới gầm.

Tại đây tôi đã gặp vài ba đồng hương, tôi vừa bước vào chợ là họ nhận ra ngay, vậy mà mình thì nhớ nhớ quên quên, lắm lúc phải đợi chuyện trò hồi lâu mới kịp vỡ ra là ai. Cô chú Xuân Hoàn tay bắt mặt mừng, xa quê gặp được người thân là một cái vui hiếm lắm. Đôi này hồi còn ở nhà học xong đại học kéo nhau về quê công tác, vợ một sở, chồng một sở, đến ngày  chia tỉnh bỗng hoá thành kẻ Bắc người Nam. Cô vợ  phàn nàn lúc nhập bảo nhập vào mới có thế mạnh, lúc chia lại bảo phải chia ra mới tìm được thế mạnh. Nói thế  nào cũng được. Anh chồng hậm hừ, cứ liều liệu cái mồm ăn nói. Cô vợ càng được thể, tôi đây là gái  Thị Cầu, anh nhớ hộ cho, gái Thị Cầu mấy nghìn năm gồng gánh nuôi chồng nuôi con, ngược xuôi chẳng quản, cánh đàn ông ở nhà chỉ việc ôm trẻ tổ tôm tam cúc, ra đường thì áo the khăn xếp, quần chúc bâu trắng, chân xỏ guốc mộc, ung dung chán. Lần này tôi đi thăm thú một chuyến xem sao, bố con cứ đợi ở nhà. Rồi cô ấy đi thật, đầu tiên còn qua Đức qua Hung, sau mới quyết định cắm sào ở đây. Đúng một năm sau hiện về, vứt tiền ra mua một miếng đất bảy chục mét vuông ở ngã sáu thành phố Kinh Bắc, bỏ đấy hẹn một ngày trở lại, giờ thì phải dắt chồng con lên Bắc Giang chào thầy mẹ họ mạc bên chồng rồi mang nhau đi cái đã.

Xuân nói với đứa con trai mười hai tuổi, bố mẹ thân cò lặn lội, sang đây không phải vì tiền, chỉ có một mong ước lớn nhất là con phải quyết chí học hành để sớm nên người, ở bên này nếu muốn học thì người ta cũng biết dạy. Thằng bé lúc ở nhà đã qua lớp năm, sang đây xin ngồi vào luôn lớp sáu, tiếng tăm chưa biết đến cả một câu chào, nhòm vào sách vở như nhòm vào mảnh bùa chú từ trên trời rơi xuống. Nó ngồi trong một lớp học toàn trẻ con Tiệp, chỉ mình nó ngọ nguậy cái đầu  đen đôi mắt đen. Nhiều đêm chong đèn hai mẹ con ôm nhau khóc. Nó kêu rống lên thổn thức, làm sao bây giờ hở mẹ, toán lý còn có những công thức, những con số để con luận ra chứ những môn khác con không thể hiểu nổi! Thằng bé trở nên lì lợm, lắm lúc nhìn nó mà lo, không biết nó đang nghĩ những gì trong cái đầu trọc lốc kia.

Cũng may các thầy giáo trong trường là những người biết chờ đợi, họ gần gụi nâng đỡ cháu từng ngày. Đến cuối năm bất ngờ nó bật ra tiếng như người câm biết nói, nói nhanh và chuẩn như mọi đứa xung quanh. Rồi bắt đầu từ đó nó vượt lên thành một trong mấy đứa đứng đầu lớp, kết thúc năm học đầu tiên nó được bằng khen có nhiều cố gắng trong học tập, là một cầu thủ có phong cách trên sân bãi, là quán quân cờ vua toàn khối. Sang cuối lớp bảy, một hôm thầy chủ nhiệm lớp lò dò tìm tới thăm gia đình, ông ấy đến để báo tin sắp cho Tùng lên Trécké Buđôvítse để thi vào lớp tám trường chuyên chỉ dành cho các học sinh có tài năng của tỉnh. Mẹ lại ôm con khóc, lần này thì chỉ có mẹ khóc, còn thằng con thì cười. Hôm nó lên tỉnh thi, hai vợ chồng dắt con tới tận cổng trường, đợi nó leo lên ngồi yên chỗ trên xe thì quay ra chợ.

Một tháng sau ông thầy lại đến báo tin, Tùng của ông bà là một trong hai đứa của thị trấn đã trúng tuyển, hết hè này là nó xa nhà, và tôi biết nó sẽ còn đi rất xa.

Tôi ngồi giữa cái chợ Việt lạc lõng xào xạc, lặng lẽ ngắm nhìn khuôn mặt dầu dãi của người em gái mà thấy lòng lẫn lộn vui buồn. Một người em gái về làm dâu ở vùng Lạng Giang quê tôi, khôn ngoan mà tần tảo khiến ta phải kính nể.

Vào mấy ngày cuối, Trần Bình lấy xe đưa tôi và thằng con út của anh, cháu Mikhai Bảo Khánh sang thăm nước Áo. Tới Viên phải qua Lin, thế thì  cũng nên lượn vào đấy uống với nhau cốc cafe, hút một điếu xì-gà rồi hãy đi tiếp, đã là rong chơi thì nên thong thả.

Như đã nói ở trên Lin là thành phố lớn thứ hai nước này, nó là một trung tâm công nghệ cao. Thành phố nằm ven sông Đa-nuýp, nơi sinh thành của nhiều danh nhân nổi tiếng mà cũng là nơi sinh ra Hít-le, ông ta đã sống thời trai trẻ ở đây, có một lần mò sang Vyssibrốt ăn nằm với một vũ nữ người Do Thái chẳng may nổ ống khói, ông ta thề thù người Do Thái suốt đời. Đấy là dân thị trấn kể vậy. Hít-le học hành phất phơ, đang học thì bỏ đi làm thợ sơn nhà sơn cửa, sau về Đức đăng lính làm đến chức cai, tính nết nóng nảy, thích diễn thuyết nổi loạn, đã từng lộn trở lại Lin ba hoa xích đế, nhưng dân Lin nghe thì chỉ cười, bảo anh hãy về quê hương anh mà kêu gọi may ra có người theo, với dân Áo thì không thể vội vàng trước bất kỳ chuyện gì.

Đường tới Viên là con đường hai chiều, mạch máu lớn của châu Âu, từ đây ngược lên có thể phóng  một lèo qua Đức tới Hà Lan, Đan Mạch, lại có thể xuôi xuống Ý, sang Pháp và Thuỵ Sĩ. Đồi núi chen lẫn ruộng đồng, những đàn bò ung dung gặm cỏ, hoa cải rực vàng bên đường, là loài cải cay trồng để lấy hạt làm mù tạt, một gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn. Thành Viên cổ kính, những cung điện, những dinh thự, nhà thờ, nhà hát và phố phường hết thảy đều toát lên một vẻ bình yên khiến ai cũng phải thèm muốn. Người Viên đi lại ăn mặc nhũn nhặn, không cầu kỳ phô phang nhưng trong cung cách vẫn không giấu nổi vẻ quý phái kín đáo. Trên quảng trường nhà thờ Đức mẹ có một nhóm hoạ sĩ nhiều quốc tịch đang ngồi vẽ truyền thần, tôi thấy có một người Việt. Khi tôi đến anh ta đang vẽ chân dung một thương gia Ả-rập, khăn áo lùng thùng. Đợi người khách đứng dậy tôi lên tiếng làm quen  với anh. Đó là Phạm Văn Lâm, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật công nghiệp  xong về công tác ở văn phòng Bộ Công nghiệp nặng, một lần qua đây thấy hứng bèn ở lại. Lâm xếp gọn đồ nghề rồi kéo tôi vào quán cafe bên hè. Anh là một nghệ sĩ lạc quan, rất nhớ Hà Nội, trong câu chuyện anh luôn nhắc đến những người bạn cũ và làng Ngọc Hà của anh.

Hôm sau trên đường về, lúc sắp đến nhà tôi nói với Trần Bình, hình như vợ chồng Hoàn Xuân ở đâu đây, ta tạt vào một lát cũng hay. Bình hưởng ứng liền, anh cầm máy di động báo cho họ biết là sắp có khách, quay sang tôi anh bảo, nhà ấy lúc nào cũng sẵn bia, thấy hết là bà vợ bổ sung ngay. Hai vợ chồng đón chúng tôi từ ngoài dốc. Chồng mặc áo sơ mi đỏ thắm, vợ vận váy liền màu rêu, sạch sẽ và sang trọng. Trong ngôi nhà thấp như  nhà kho đã thấy nhóm một bếp lửa lớn, củi thông cháy rừng rực, bên trên là nồi cháo gà đang sôi. Những chai bia, những con mực nướng thơm lừng đặt trên bàn. Căn nhà như một cái ống dài, họ đã thuê của gia đình một người lính kiểm lâm, gian ngoài có làm thêm một gác xép, gian trong là buồng ngủ của vợ chồng, sau buồng ngủ là nhà tắm, khu vệ sinh. Những đống hòm xếp thành dãy dưới chân tường. Tôi ngồi trước đống lửa, chả muốn ăn uống gì. Nhìn lên bức ảnh lớn treo trước mặt, một chú bé  mặc veston len kẻ carô màu sáng, đôi mắt sáng nhìn thẳng, nét mặt tươi nhưng không cười. Tôi hỏi thằng Tùng đâu? Đáp, giờ cháu đang ở bên ông nội trên đất Lạng Giang. Bọn em cho cháu bay về thăm quê trước lúc nhập trường mới, ở nhà báo tin sang ông nội đang ốm nặng, mong được gặp cháu đích tôn từng ngày, phòng nhỡ có phải đi thì cũng yên lòng.

Tôi thấy Tùng đang nhìn tôi vừa nghiêm trang vừa có chút ngượng nghịu, ở nó có vẻ gì rất giống chú bé cầm tẩu trong bức sơn dầu của Picasso. Tôi hình dung ra khung cảnh quê nhà, một sân ga nghèo, con tàu  thở khói bụi mù mịt, một thằng bé phong phanh chiếc áo sơ mi mỏng, chân xỏ đôi ba ta vải màu trắng đứng ngẩn ngơ ngó trời, ngó đất. Rồi cu cậu lội tắt qua cánh đồng màu, leo lên bờ con sông máng, bóng nó thấp thoáng sau những luỹ tre nghèo.

Nó ngồi nghỉ chân dưới bóng cây dã hương nghìn năm tuổi, cây dã hương ấy là di sản vẻ vang nhất của quê nhà, là nơi nó đã gửi tuổi thơ mình ở đó, là những sáng bụng đói meo ôm sách theo chúng bạn đến trường ê a học chữ, là những chiều theo chân ông bà ra cổng làng đợi mẹ, đợi cha. Là điểm xuất phát của một con đường xa mà nó đang bước lên trong niềm tin mà quê nhà đang gửi gắm trông đợi.

Đỗ Chu

Các tin khác Thu nho cua so ket qua tim kiem Phong to cua so ket qua tim kiem Dong cua so ket qua tim kiem
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
Thu nho cua so ket qua tim kiem Phong to cua so ket qua tim kiem Dong cua so ket qua tim kiem
Tư liệu ảnh Thu nho cua so ket qua tim kiem Phong to cua so ket qua tim kiem Dong cua so ket qua tim kiem
Bài đọc nhiều nhất Thu nho cua so ket qua tim kiem Phong to cua so ket qua tim kiem Dong cua so ket qua tim kiem
Bản quyền thuộc Báo Bắc Giang . Địa chỉ: Số 49 Nguyễn Văn Cừ - TP Bắc Giang - Tỉnh Bắc Giang.
Tổng Biên tập TRỊNH VĂN ÁNH - Tòa soạn ĐT:+84.0240.3856367 - +84.0240.3854639
Fax:+84.0240.3856624 , Email: toasoan@baobacgiang.com.vn
Giấy phép số 281/GP - BC ngày 13 tháng 9 năm 2006.
Ghi rõ nguồn "Báo Bắc Giang Online" khi phát hành lại thông tin từ website này.
ictgroup.vn